SpStinet - vwpChiTiet

 

Nghiên cứu tỷ lệ nhiễm, tính kháng kháng sinh của streptococcus pneumoniae và haemophilus influenzae gây viêm phổi ở bệnh nhi đặt ống nội khí quản tại Bệnh viện Nhi đồng Cần Thơ

Đề tài do tác giả Trần Đỗ Hùng thực hiện nhằm nghiên cứu tỷ lệ nhiễm streptococcus pneumoniae và haemophilus influenzae gây viêm phổi ở bệnh nhi đặt ống nội khí quản; xác định tính kháng kháng sinh của streptococcus pneumoniae và haemophilus infuenzae gây viêm phổi ở bệnh nhi đặt ống nội khí quản.

Nghiên cứu tiến hành với 64 bệnh phẩm được lấy từ dịch phế quản của trẻ từ 2 tháng đến 60 tháng tuổi bị viêm phổi cấp tính được điều trị tại khoa điều trị tích cực, Bệnh viện Nhi đồng Cần Thơ từ 6/2006-2/2008.

Kết quả, tỷ lệ nam là 62,5% và nữ là 46,5%; lứa tuổi dễ viêm phổi là từ 2-24 tháng tuổi. S. pneumoniae có tỷ lệ đề kháng cao với các kháng sinh penicillin, cefaclor, chloramphenicol và erythromycin. Còn nhạy cao với nhóm quinolon (ciprofloxacin) và vancomycin. Tỷ lệ đề kháng cao với trimethoprime/sulfamethoxazole của vi khuẩn ở nông thôn cao hơn thành thị. H.influenzae đề kháng cao với hầu hết các kháng sinh được lựa chọn: ampicillin, chloramphenicol, cephalosporin 3 đường tĩnh mạch (cefotaxime, ceftriaxone) nhưng còn nhạy tốt với nhóm quinolon (ofloxacin, ciprofloxacin). Giới tính có ảnh hưởng đến tỷ lệ đề kháng cefaclor (nam > nữ). Tỷ lệ đề kháng với ceftriaxone ở thành thị cao hơn ở nông thôn. Tuổi không tác động đến tỷ lệ đề kháng kháng sinh của 2 loại vi khuẩn.

LV (nguồn: TC Y học thực hành, số 4/2008)

 

Các tin khác:

  • 10 mẫu tin
  • 50 mẫu tin
  • 100 mẫu tin
  • Tất cả