SpStinet - vwpChiTiet

 

Nghiên cứu định lượng furazolidon trong thức ăn nuôi tôm bằng kỹ thuật cựu phổ sóng vuông quét nhanh trên cực giọt chậm

Đề tài do các tác giả Phùng Thế Đồng, Lê Thị Minh Dung (Khoa Dược – ĐH Y Dược TP.HCM), Trần Tử An (Trường ĐH Dược Hà Nội), Nguyễn Bảo Thủy Trân, Nguyễn Trọng Giao (Trung tâm Nhiệt đới Việt – Nga chi nhánh phía Nam, TP.HCM) thực hiện nghiên cứu áp dụng kỹ thuật cựu phổ sóng vuông quét nhanh trên cực giọt chậm (CPSVQN) để định lượng furazolidon (FZ) trong thức ăn nuôi tôm.

FZ là kháng sinh thuộc nhóm nitrofuran có phổ rộng và ít bị đề kháng nhưng sau 1 thời gian sử dụng phát hiện nó gây ra nhiều tác dụng phụ có hại thậm chí gây nguy hiểm cả đến tính mạng con người kể cả khi nó tồn tại ở dạng một dư lượng nhỏ trong thực phẩm. Việc kiểm tra FZ trong nguồn thức ăn nuôi tôm đã được tiến hành áp dụng phương pháp HPLC với đầu dò PDA. Tuy nhiên phương pháp này chưa được áp dụng đại trà vì còn hạn chế về kinh phí. Vì vậy việc tìm kiếm một phương pháp thuận tiện, giá thành hợp lý… để triển khai rộng là điều rất cần thiết.
Nghiên cứu tiến hành với FZ chuẩn của Aldrich – Sigma, máy sóng vuông quét nhanh ANALYZER SQF-505, thuốc thử, ba mẫu thức ăn trên thị trường là Cà diêu (mẫu 1), Topic (mẫu 2) và Đài Loan (mẫu 3).
Kết quả, nhóm nghiên cứu đã xây dựng phương pháp định lượng FZ trong thức ăn nuôi tôm bằng kỹ thuật CPSVQN trên cực giọt chậm có độ đúng tốt và độ lặp lại cao. Định lượng FZ trong thức ăn nuôi tôm bằng kỹ thuật SVQN trên cực giọt chậm có những ưu điểm: quy trình xử lý mẫu tương đối đơn giản, không cần phải xử lý tinh khiết như mẫu sử dụng cho HPLC, sử dụng các loại hoá chất thông thường, thời gian phân tích nhanh, thao tác trên máy dễ dàng, giá thành phân tích thấp.
Trong điều kiện Việt Nam hiện nay việc trang bị đại trà cho các cơ sở máy HPLC để dịnh lượng FZ trong thức ăn nuôi tôm và máy LC/MS/MS để xác định dư lượng chất chuyển hoá của FZ (AOZ) là tương đối khó khăn. Trong khi quy định xuất khẩu rất nghiêm ngặt về dư lượng FZ trong tôm. Vì thế để hạn chế thiệt hại trong xuất khẩu người ta đã tiến hành kiểm tra chặt chẽ các nguồn thức ăn, nước nuôi tôm, thuốc thú y…
Sử dụng kỹ thuật SVQN để định lượng FZ trong thức ăn nuôi tôm có tính chất sàng lọc ban đầu trước khi gởi mẫu đến các trung tâm thực hiện phương pháp kiểm nghiệm bằng HPLC, LC/MS. Đây là phương pháp áp dụng thích hợp cho các cơ sở tuyến dưới không có điều kiện trang bị các phương tiện kỹ thuật cao.
LV (nguồn: Tạp Chí Dược học số 380, 12/2007)

Các tin khác:

  • 10 mẫu tin
  • 50 mẫu tin
  • 100 mẫu tin
  • Tất cả