SpStinet - vwpChiTiet

 

Đánh giá hiệu quả dinh dưỡng của dung dịch nuôi ăn cao năng lượng tự chế nuôi dưỡng qua ống thông dạ dày cho bệnh nhân nặng tại Bệnh Viện Trung Ương Huế

Đề tài do các tác giả Vũ Thị Bắc Hà (Bệnh Viện Trung Ương Huế) và Nguyễn Thanh Chò (Học Viện Quân Y) thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả nuôi dưỡng bệnh nhân nặng ăn qua ống thông bằng dung dịch cao năng lượng tự chế (DDCNLTC) tại Bệnh Viện Trung Ương Huế; đánh giá khả năng áp dụng của dung dịch tại bệnh viện.

Nuôi ăn qua ống thông là một phương pháp thường được sử dụng cho những bệnh nhân nặng ở các bệnh viện. Điều quan tâm đầu tiên với phương pháp này là phải chọn loại thức ăn phù hợp, đáp ứng được nhu cầu về nước và chất lượng các chất dinh dưỡng cần thiết, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm…
Nghiên cứu tiến hành với các bệnh nhân nặng lứa tuổi từ 18 – 65 tuổi có chỉ định nuôi ăn qua ống thông dạ dày vào điều trị tại Bệnh Viện Trung Ương Huế, gồm nhóm nuôi ăn bằng DDCNLTC (32 bệnh nhân) và nhóm nuôi ăn bằng dung dịch cao năng lượng nhập ngoại (34 bệnh nhân).
Kết quả cho thấy, tuổi trung bình của nhóm 32 bệnh nhân là 36,8 ± 12,2, nhóm 34 bệnh nhân là 40,1 ± 15,3; về giới, bệnh nhân nam chiếm lần lượt là 87,5% và 88,2% ở 2 nhóm. Công thức sản xuất dung dịch nuôi ăn cao năng lượng (thành phần dinh dưỡng trong 1000ml dung dịch nuôi ăn cao năng lượng gồm: bột gạo, bột đậu xanh, trứng gà, dầu ăn, giá đỗ, sữa bột nguyên kem, đường với tổng năng lượng là 1059 Kcal, đậm độ năng lượng là 1,06 Kcal/1ml dung dịch, protid chiếm 18,1%, lipid chiếm 33,8%, glucid chiếm 48,1% tổng năng lượng) tại Bệnh Viện Trung Ương Huế hoàn toàn phù hợp với bệnh nhân về mặt tiêu hóa, hấp thu và đảm bảo về mặt vệ sinh thực phẩm, 100% bệnh nhân không có biểu hiện ngộ độc thức ăn hoặc rối loạn tiêu hóa trong quá trình nuôi ăn. Số lượng dung dịch nuôi ăn trung bình cho 1 bệnh nhân là 2158 ± 342ml/ngày, với liều lượng tăng dần từ 200ml/bữa đến 400ml/bữa cho kết quả tốt về mặt duy trì cân nặng và các chỉ số cận lâm sàng liên quan đến dinh dưỡng của bệnh nhân như protid máu toàn phần, albumin huyết thanh, cholesterol, triglycerid, LDL và HDL. Giá thành của sản phẩm DDCNTC rẻ hơn từ 3,5-5,3 lần so với các sản phẩm tương tự nhập ngoại. Thực phẩm sử dụng để chế biến sẵn có tại các địa phương, vì vậy có thể áp dụng sản xuất rộng rãi ở tất cả các bệnh viện trên toàn quốc.
LV (nguồn: Tạp Chí Y học thực hành, số 12/2007)

Các tin khác:

  • 10 mẫu tin
  • 50 mẫu tin
  • 100 mẫu tin
  • Tất cả