5.1. Giải thưởng cấp quốc gia về khoa học và công nghệ In E-mail
Sách KH&CN trực tuyến năm 2016


Chương 5.
GIẢI THƯỞNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

 

5.2. Giải thưởng khoa học và công nghệ tại TP. Hồ Chí Minh



5.1.1. Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ


   Giải thưởng Hồ Chí Minh được Chủ tịch Hội đồng Nhà nước quy định tại Pháp lệnh số 16/LCT/HDNN7, ngày 04/6/1985. Giải thưởng trao tặng cho các công trình thuộc lĩnh vực khoa học, kỹ thuật và văn học, nghệ thuật đã được công bố hoặc sử dụng tại Việt Nam.


   Giải thưởng Hồ Chí Minh được đề cập tại Điều 66, Điều 67 của Luật Thi đua, khen thưởng số 15/2003/QH11, ngày 26/11/2003 và Luật số 47/2005/QH11, ngày 14/6/2005 của Quốc hội về sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng. Giải thưởng Hồ Chí Minh tiếp tục được đề cập tại Điều 46 Nghị định số 42/2010/NĐ-CP, ngày 15/4/2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng.


   Ngày 30/7/2014, Giải thưởng Hồ Chí Minh về KH&CN được quy định chi tiết (đối tượng, điều kiện, tiêu chuẩn, quy trình, thủ tục xét tặng) tại Nghị định số 78/2014/NĐ-CP, nhằm động viên khuyến khích những người làm nghiên cứu khoa học, kỹ thuật cống hiến ngày càng nhiều cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Giải thưởng được xét và công bố 5 năm một lần vào dịp Quốc khánh 2/9, việc xét tặng do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì. Ngày 06/11/2014 Bộ Khoa học và Công nghệ có Thông tư số 31/2014/TT-BKHCN, quy định về việc tổ chức triển khai xét tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh. Theo đó, Giải thưởng Hồ Chí Minh về KH&CN được chia thành 3 nhóm: công trình nghiên cứu khoa học, công trình nghiên cứu phát triển công nghệ, công trình nghiên cứu ứng dụng công nghệ. Thời gian công trình được công bố hoặc ứng dụng trong thực tiễn ít nhất 3 năm hoặc công trình ứng dụng đổi mới sáng tạo có hiệu quả ít nhất 1 năm tính từ thời điểm cơ quan chủ trì tổ chức xét tặng giải thưởng nhận hồ sơ công trình được xét tặng.


   Giải thưởng Hồ Chí Minh về KH&CN được xét tặng cho tác giả của công trình, cụm công trình KH&CN đặc biệt xuất sắc, có giá trị rất cao về KH&CN; được ứng dụng thành công và có hiệu quả trong các công trình trọng điểm quốc gia, có tác dụng lớn phục vụ sự nghiệp cách mạng, có ảnh hưởng rộng lớn và lâu dài trong đời sống nhân dân, góp phần quan trọng trong sự nghiệp phát triển nền kinh tế quốc dân, KH&CN hoặc ứng dụng trong thực tiễn. Các cá nhân, đồng tác giả là người nước ngoài có công trình KH&CN đủ tiêu chí cũng được đề nghị xét tặng giải thưởng.


   Tác giả có công trình, cụm công trình được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về KH&CN được nhận Bằng chứng nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về KH&CN do Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam quyết định trao tặng, cùng tiền thưởng và được hưởng các quyền lợi khác theo quy định của pháp luật hiện hành.


   Đến nay, Giải thưởng Hồ Chí Minh về KH&CN đã tổ chức 05 đợt trao tặng cho các tổ chức và cá nhân:


   – Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt đầu tiên được trao cho 33 công trình và cụm công trình khoa học, theo Quyết định số 991 KT/CTN, ngày 10/9/1996 của Chủ tịch nước.
 

   – Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt II được trao cho 21 công trình và cụm công trình KH&CN, theo Quyết định số 392 KT/CTN, ngày 01/9/2000 của Chủ tịch nước.
 

   – Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt III được trao cho 12 công trình và cụm công trình KH&CN, theo Quyết định số 971/2005/QĐ-CTN, ngày 30/8/2005 của Chủ tịch nước; và 01 công trình thuộc lĩnh vực an ninh - quốc phòng.
 

   – Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt IV được trao cho 12 công trình và cụm công trình KH&CN, theo Quyết định số 104/QĐ-CTN, ngày 20/01/2012 của Chủ tịch nước; và 03 công trình thuộc lĩnh vực an ninh - quốc phòng.
 

   – Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt V được trao cho 09 công trình và cụm công trình KH&CN, theo Quyết định số 104/QĐ-CTN, ngày 11/01/2017 của Chủ tịch nước.
 

Công trình/cụm công trình KH&CN được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt V

 

Nguồn: http://khoahocvacongnghevietnam.com.vn

 

5.1.2. Giải thưởng Nhà nước về khoa học và công nghệ
 

   Tương tự như Giải thưởng Hồ Chí Minh về KH&CN, Giải thưởng Nhà nước về KH&CN nhằm động viên khuyến khích những người làm nghiên cứu khoa học, kỹ thuật cống hiến ngày càng nhiều cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Giải thưởng này cũng được quy định cụ thể tại Pháp lệnh số 16/LCT/HDNN7; Điều 66, Điều 68 Luật Thi đua, khen thưởng số 15/2003/QH11, ngày 26/11/2003 và Luật số 47/2005/QH11, ngày 14/6/2005 của Quốc hội về sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng; Điều 47 Nghị định số 42/2010/NĐ-CP, ngày 15/4/2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng; Nghị định số 78/2014/NĐ-CP và hướng dẫn tại Thông tư số 31/2014/TT-BKHCN.


   Giải thưởng Nhà nước về KH&CN được xét tặng và công bố 5 năm một lần vào dịp Quốc khánh 2/9, việc xét tặng do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì.


   Giải thưởng Nhà nước về KH&CN cũng được chia thành 3 nhóm: công trình nghiên cứu khoa học, công trình nghiên cứu phát triển công nghệ, công trình nghiên cứu ứng dụng công nghệ. Thời gian công trình được công bố hoặc ứng dụng trong thực tiễn ít nhất 3 năm hoặc công trình ứng dụng đổi mới sáng tạo có hiệu quả ít nhất 1 năm tính từ thời điểm cơ quan chủ trì tổ chức xét tặng giải thưởng nhận hồ sơ công trình được xét tặng.


   Giải thưởng Nhà nước về KH&CN được xét tặng cho tác giả của công trình, cụm công trình KH&CN xuất sắc, có giá trị cao về KH&CN; có tác dụng và ảnh hưởng lớn trong xã hội; được ứng dụng thành công và có hiệu quả trong các công trình trọng điểm quốc gia, góp phần quan trọng trong sự nghiệp phát triển nền kinh tế quốc dân, KH&CN hoặc ứng dụng trong thực tiễn. Các cá nhân, đồng tác giả là người nước ngoài có công trình KH&CN đủ tiêu chí cũng được đề nghị xét tặng giải thưởng.


   Tác giả có công trình, cụm công trình được tặng Giải thưởng Nhà nước về KH&CN được nhận Bằng chứng nhận Giải thưởng Nhà nước về KH&CN do Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam quyết định trao tặng, cùng tiền thưởng và được hưởng các quyền lợi khác theo quy định của pháp luật hiện hành.


   Các đợt trao Giải thưởng Nhà nước:


   – Quyết định số 391 KT/CTN, ngày 01/9/2000 của Chủ tịch nước về việc trao Giải thưởng Nhà nước cho 71 công trình và cụm công trình KH&CN.


   – Quyết định số 972/2005/QĐ-CTN, ngày 30/8/2005 của Chủ tịch nước về việc trao Giải thưởng Nhà nước cho 41 công trình và cụm công trình KH&CN; và 1 công trình thuộc lĩnh vực an ninh - quốc phòng.


   – Quyết định số 103/QĐ-CTN, ngày 20/1/2012 của Chủ tịch nước về việc trao Giải thưởng Nhà nước cho 20 công trình và cụm công trình KH&CN; và 1 công trình thuộc lĩnh vực an ninh – quốc phòng.


   – Quyết định số 105/QĐ-CTN, ngày 11/01/2017 của Chủ tịch nước về việc trao Giải thưởng Nhà nước cho 07 công trình và cụm công trình KH&CN.


Công trình/cụm công trình KH&CN vừa được trao Giải thưởng Nhà nước

 

Nguồn: http://khoahocvacongnghevietnam.com.vn


5.1.3. Giải thưởng Tạ Quang Bửu


   Ngày 26/08/2013, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Quyết định số 2635/QĐ-BKHCN về Quy chế Giải thưởng Tạ Quang Bửu, giải thưởng được xét tặng hằng năm nhằm khích lệ và tôn vinh các nhà khoa học có thành tựu nổi bật trong nghiên cứu cơ bản thuộc các lĩnh vực khoa học tự nhiên và kỹ thuật, góp phần thúc đẩy nền KH&CN Việt Nam hội nhập và phát triển. Giải thưởng Tạ Quang Bửu được tổ chức lần đầu tiên vào năm 2014.


   Quyết định số 2635/QĐ-BKHCN đã được thay thế bằng Thông tư số 01/2015/TT-BKHCN, ngày 12/1/2015, của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ về Quy chế Giải thưởng Tạ Quang Bửu.


   Theo đó, Giải thưởng Tạ Quang Bửu được xét tặng cho tác giả các công trình nghiên cứu cơ bản thuộc các lĩnh vực: khoa học tự nhiên (toán học, khoa học máy tính và thông tin, vật lý, hóa học, các khoa học trái đất và môi trường liên quan, sinh học, khoa học tự nhiên khác); khoa học kỹ thuật; khoa học y, dược; khoa học nông nghiệp.


   Cá nhân được xét tặng Giải thưởng Tạ Quang Bửu là người có đóng góp quan trọng nhất đối với công trình khoa học thỏa mãn các tiêu chuẩn: được thực hiện tại Việt Nam, công bố trước ít nhất một năm và không quá năm năm trên các tạp chí khoa học chuyên ngành quốc tế tính đến thời điểm kết thúc nhận hồ sơ đề nghị xét tặng Giải thưởng (tính theo thời điểm công bố của tạp chí), được đăng ký lưu giữ kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ theo quy định của pháp luật trong trường hợp công trình khoa học là kết quả của nhiệm vụ KH&CN có sử dụng hoặc nhận hỗ trợ kinh phí từ ngân sách nhà nước.

 
   Tiêu chí đánh giá đối với công trình khoa học: ý nghĩa, giá trị khoa học của công trình khoa học; chất lượng của tạp chí khoa học có công trình khoa học được đăng tải, được xác định thông qua chỉ số tác động và các xếp hạng quốc tế tại thời điểm công bố công trình.


   Cơ cấu Giải thưởng Tạ Quang Bửu bao gồm: từ 1 đến 3 giải thưởng dành cho tác giả của công trình khoa học và 1 giải thưởng dành cho nhà khoa học trẻ (dưới 35 tuổi) là tác giả của công trình khoa học.


   Cá nhân đạt Giải thưởng được nhận Bằng chứng nhận của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ và tiền thưởng theo quy định.


   Năm 2016, theo Quyết định số 1091/QĐ-BKHCN của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, Giải thưởng Tạ Quang Bửu được trao cho 2 nhà khoa học có thành tích nghiên cứu xuất sắc trong nghiên cứu cơ bản thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên và kỹ thuật và 1 nhà khoa học trẻ.


Danh sách các nhà khoa học được trao Giải thưởng Tạ Quang Bửu năm 2016

 

Nguồn: http://www.nafosted.gov.vn

 
5.1.4. Giải thưởng Sáng tạo khoa học công nghệ Việt Nam


   Năm 1995, lần đầu tiên Quỹ Hỗ trợ sáng tạo kỹ thuật Việt Nam (Quỹ VIFOTEC) thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức Giải thưởng Khoa học công nghệ VIFOTEC (tiền thân Giải thưởng Sáng tạo khoa học công nghệ Việt Nam).
 

   Năm 1997, đề án phối hợp tổ chức Giải thưởng Khoa học công nghệ VIFOTEC được ký kết giữa Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam và Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ).


   Năm 1999, Giải thưởng Khoa học công nghệ VIFOTEC được nâng cấp thành Giải thưởng Sáng tạo khoa học công nghệ Việt Nam.


   Giải thưởng Sáng tạo khoa học công nghệ Việt Nam do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam và Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, cùng phối hợp tổ chức với các cơ quan như Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Bộ Tài chính, Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Thông tin - Truyền thông, Bộ Xây dựng, Bộ Giao thông Vận tải, Đài Truyền hình Việt Nam... Quỹ VIFOTEC là cơ quan thường trực.


   Giải thưởng Sáng tạo khoa học công nghệ Việt Nam được tổ chức hàng năm, xét trao tặng cho các tác giả hoặc đồng tác giả là công dân Việt Nam, người Việt Nam ở nước ngoài; người nước ngoài đang lao động, học tập, công tác tại Việt Nam có những công trình KH&CN có giá trị lớn về khoa học - kinh tế - xã hội; đang được nghiên cứu, áp dụng trên lãnh thổ Việt Nam trong thời gian 5 năm tính đến thời điểm cuối cùng nộp hồ sơ nhằm khuyến khích nghiên cứu, áp dụng các thành tựu KH&CN tiên tiến vào sản xuất và đời sống và công nhận sự đóng góp nổi bật của các nhà khoa học.


   Các công trình được trao Giải thưởng phù hợp với các lĩnh vực KH&CN ưu tiên, tập trung vào các lĩnh vực KH&CN trọng điểm của Nhà nước, và đạt các yêu cầu: tính mới (công trình đề cập tới những công nghệ, những vấn đề khoa học công nghệ chưa được công bố trên thế giới, chưa được bộc lộ hoặc phổ biến bằng các nguồn thông tin ở Việt Nam); tính sáng tạo (căn cứ vào trình độ khoa học công nghệ ở trong nước và ngoài nước, công trình đó không nảy sinh một cách hiển nhiên đối với chuyên gia trong lĩnh vực đó mà là kết quả của hoạt động khoa học kỹ thuật tạo ra); hiệu quả về kinh tế, kỹ thuật và xã hội; khả năng áp dụng ở quy mô công nghiệp, sản phẩm dễ chế tạo, dễ sử dụng, nguyên vật liệu dễ kiếm, thay thế nhập ngoại. Công trình đã được hội đồng khoa học cấp bộ, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và cấp tương đương trở lên nghiệm thu, hội đồng khoa học các tổng công ty theo Quyết định 90/TTg, 91/TTg của Thủ tướng Chính phủ và các tập đoàn kinh tế hoặc hội đồng khoa học của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam nghiệm thu đánh giá xuất sắc và không vi phạm quyền sở hữu trí tuệ của cá nhân, đơn vị khác.


   Các công trình được trao giải sẽ được nhận Bằng khen của Ban Tổ chức Giải thưởng, Biểu trưng vàng sáng tạo và kèm theo tiền mặt tương ứng với Giải thưởng.


   Giải thưởng Sáng tạo khoa học công nghệ Việt Nam năm 2015 được trao cho 30 công trình khoa học thuộc 6 lĩnh vực công nghệ ưu tiên: công nghệ thông tin, điện tử và viễn thông; cơ khí tự động hóa; công nghệ vật liệu; sinh học phục vụ sản xuất và đời sống; công nghệ nhằm bảo vệ môi trường và sử dụng hợp lý tài nguyên; công nghệ nhằm tiết kiệm năng lượng và sử dụng năng lượng mới.


Danh sách các công trình đoạt Giải thưởng Sáng tạo khoa học công nghệ Việt Nam 2015
 

Nguồn: http://www.vifotec.com.vn


5.1.5. Giải thưởng Kovalevskaia


   Giải thưởng Kovalevskaia, giải thưởng mang tên nhà nữ toán học Nga lỗi lạc thế kỷ XIX - Sofia Vasilyevna Kovalevskaia (1850-1891), được nhà toán học người Mỹ, Neal Koblitz và vợ là Ann Hibner Koblitz thành lập năm 1985. Giải thưởng nhằm tôn vinh những tập thể, cá nhân là các nhà khoa học nữ có thành tích xuất sắc thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên.


   Quỹ Kovalevskaia dựa trên thu nhập từ cuốn sách của Neal Koblitz viết về tiểu sử của bà Kovalevskaia, cùng với sự ủng hộ của một số nhà khoa học khác. Quỹ đã hỗ trợ cho 8 nước đang phát triển là: Nicaragua, Mexico, Cuba, Phi, Mozambique, Peru, El Salvador và Việt Nam.


   Giải thưởng Kovalevskaia được triển khai tại Việt Nam từ năm 1985, Chủ tịch Ủy ban Giải thưởng là bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Đến năm 2016, Chủ tịch Ủy ban Giải thưởng Kovalevskaia là Bà Nguyễn Thị Doan - nguyên Phó Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.


   Giải thưởng Kovalevskaia được tổ chức xét trao tặng hàng năm. Tiêu chuẩn xét chọn đối với cá nhân: là phụ nữ Việt Nam đang công tác nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, thuộc một trong các lĩnh vực: toán học, vật lý, hóa học, sinh vật học, y học, dược học, nông nghiệp, công nghiệp, kỹ thuật, xây dựng, công nghệ thông tin…; có nhiều công trình, đề tài nghiên cứu khoa học xuất sắc, được ứng dụng trong thực tiễn; có đóng góp tích cực vào việc xây dựng bộ, ngành; giỏi trong công tác nghiên cứu ứng dụng khoa học, đảm việc nhà, đóng góp tích cực cho phong trào phụ nữ của đơn vị, bộ/ngành; cá nhân không phải là thành viên của tập thể từng nhận giải thưởng Kovalevskaia.


   Đối với tập thể: là tập thể/nhóm các nhà khoa học người Việt Nam có ít nhất 70% các thành viên là nữ (trong đó người đứng đầu là nữ) có các công trình, đề tài nghiên cứu khoa học xuất sắc thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên như: toán học, vật lý, hóa học, sinh vật học, y học, dược học, nông nghiệp, công nghiệp, kỹ thuật, kỹ thuật xây dựng,… được thừa nhận và được ứng dụng trong thực tiễn; đóng góp tích cực vào việc xây dựng bộ/ngành; các thành viên nữ trong tập thể là những phụ nữ giỏi trong công tác nghiên cứu khoa học, đảm việc nhà, đóng góp cho phong trào phụ nữ của đơn vị và phong trào phụ nữ cả nước.


   Để được xét trao Giải thưởng Kovalevskaia, các cá nhân và tập thể nữ phải được đơn vị hay cơ quan chủ quản suy tôn và tiến cử; hồ sơ đề cử trao Giải thưởng do Hội đồng thi đua khen thưởng, Hội đồng khoa học các bộ/ngành xét chọn và giới thiệu về Ủy ban Giải thưởng Kovalevskaia.


   Từ 1985 đến nay, tại Việt Nam, Giải thưởng Kovalevskaia đã được trao cho 17 tập thể và 44 cá nhân xuất sắc, tiêu biểu trong các lĩnh vực khoa học tự nhiên và ứng dụng. Trong đó, có 2 tập thể khoa học và 6 nhà khoa học nữ hoạt động tại thành phố Hồ CHí Minh.

 

Danh sách các nhà khoa học nữ được trao Giải thưởng Kovalevskaia năm 2015


Nguồn: http://hoilhpn.org.vn


Tập thể và các nhà khoa học nữ hoạt động tại TP.HCM được trao Giải thưởng Kovalevskaia, từ năm 1985 đến 2015

 

Nguồn: tổng hợp từ http://hoilhpn.org.vn 


5.1.6. Giải thưởng WIPO


   Giải thưởng WIPO do Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (WIPO - World Intellectual Property Organization, là một trong 16 tổ chức chuyên môn của Liên Hợp Quốc, có chức năng chính là thực hiện và thúc đẩy sự phối hợp quốc tế trong hoạt động bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ) sáng lập và công bố lần đầu tiên vào năm 1979.


   Giải thưởng WIPO được tổ chức hàng năm tại nhiều quốc gia trên thế giới nhằm khuyến khích các hoạt động sáng kiến, sáng chế trên toàn thế giới, đặc biệt là ở các nước đang phát triển, đồng thời góp phần làm cho công chúng chú ý nhiều hơn và trân trọng hơn công lao đóng góp của các nhà khoa học.


   Cơ cấu Giải thưởng WIPO gồm các giải thưởng dành tặng cho các nhà sáng chế, các công trình sáng tạo, doanh nghiệp sáng tạo, sinh viên sáng tạo và người sử dụng hiệu quả hệ thống WIPO. Cơ cấu này có thể thay đổi tùy điều kiện của mỗi năm và mỗi quốc gia.


   Đối với giải thưởng WIPO dành cho doanh nghiệp sáng tạo, mục tiêu nhằm khuyến khích các doanh nghiệp, chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở tất cả các quốc gia tích cực sử dụng hệ thống sở hữu trí tuệ trong hoạt động sản xuất - kinh doanh. Việc tuyển chọn dựa trên các tiêu chí: số lượng các đối tượng sở hữu công nghiệp đã được áp dụng và thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp (các bằng độc quyền sáng chế, nhãn hiệu hàng hóa, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, tên gọi xuất xứ hàng hóa, chỉ dẫn địa lý, phần mềm máy tính,...); hiệu quả ứng dụng hệ thống sở hữu trí tuệ vào trong sản xuất - kinh doanh tạo ra tăng trưởng; sử dụng dịch vụ sở hữu trí tuệ; các biện pháp khác để khuyến khích phong trào sáng kiến; các giải thưởng khác đã nhận.


   WIPO phối hợp với các tổ chức ở mỗi nước để lập ra các quy định, thủ tục và tiêu chuẩn để xét chọn trao Giải thưởng. Các tổ chức này có thể là các tổ chức chính phủ hoặc tư nhân hoạt động trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, khoa học và công nghệ, văn hóa, kinh doanh và thương mại. Ví dụ như các bộ chịu trách nhiệm liên quan đến các vấn đề sở hữu trí tuệ, cơ quan sở hữu trí tuệ quốc gia, các phòng thương mại và công nghiệp, các hiệp hội về công nghiệp, liên hiệp các đại diện sở hữu trí tuệ,…


   Tại Việt Nam, từ năm 2001, Giải thưởng WIPO được Bộ Khoa học và Công nghệ cùng với Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam chủ trì, thường trực là Quỹ Hỗ trợ Sáng tạo Kỹ thuật Việt Nam (VIFOTEC) tổ chức tuyển chọn và trao giải hàng năm.


   Giải thưởng WIPO năm 2015 được trao cho 2 công trình xuất sắc thuộc lĩnh vực cơ khí tự động hóa và sinh học phục vụ sản xuất và đời sống.


Danh sách các công trình được trao Giải thưởng WIPO năm 2015

 

Nguồn: http://www.vifotec.com.vn

 

Danh sách các doanh nghiệp được trao Giải thưởng WIPO


Nguồn: tổng hợp từ http://www.vifotec.com.vn http://www.giaithuong.vn 

5.2. Giải thưởng khoa học và công nghệ tại TP. Hồ Chí Minh 
 

Sách Khoa học và Công nghệ TP. HCM 2016 

Tải nội dung này tại đây.