3.2. Nguồn nhân lực khoa học và công nghệ tại thành phố Hồ Chí Minh In E-mail
Sách KH&CN trực tuyến năm 2016


Chương 3.
TIỀM LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

 

3.1. Các tổ chức khoa học và công nghệ trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

3.3. Tài chính cho hoạt động khoa học và công nghệ tại thành phố Hồ Chí Minh

3.4. Cơ sở hạ tầng khoa học và công nghệ của thành phố Hồ Chí Minh

3.5. Thông tin khoa học và công nghệ tại thành phố Hồ Chí Minh

 

 

3.2. NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH


3.2.1. Nhân lực khoa học và công nghệ tiềm năng tại Thành phố Hồ Chí Minh

Tổng cục Thống kê tiến hành tổng điều tra dân số trên toàn quốc theo chu kỳ 10 năm và số liệu liên quan đến nhân lực mới nhất là từ cuộc tổng điều tra năm 2009. Nhân lực KH&CN tiềm năng1 của Thành phố đã có sự phát triển rõ nét kể từ năm 1999 tới nay. Theo kết quả tổng điều tra dân số, nhân lực KH&CN tiềm năng năm 2009 đã tăng gấp hơn 2,5 lần so với năm 1999. Nhóm nhân lực KH&CN tiềm năng trình độ thạc sĩ có tỷ lệ tăng trưởng cao nhất (tăng trên 457%), từ 4.538 người năm 1999 lên trên 20 nghìn người năm 2009 (nhiều gấp 4,5 lần). Số lượng người có trình độ tiến sĩ trong tổng nhân lực KH&CN tiềm năng tăng 72% so với năm 1999, nhưng tỷ lệ của nhóm này trong nguồn nhân lực KH&CN tiềm năng giảm từ 1,2% năm 1999 xuống còn 0,77% năm 2009 (Bảng 3.5).
 

1 UNESCO và OECD sử dụng thuật ngữ "Nhân lực cho KH&CN" (Human resources for science and technology, viết tắt là HRST). Thuật ngữ "Nhân lực KH&CN tiềm năng" được Cục Thông tin KH&CN Quốc gia sử dụng cho khái niệm này trong sách KH&CN Việt Nam 2013. "Nhân lực KH&CN tiềm năng" của một quốc gia/vùng lãnh thổ được hiểu bao gồm toàn bộ những người có trình độ từ cao đẳng/đại học trở lên (tương ứng với bậc đào tạo thứ 3 theo phân loại quốc tế về giáo dục đào tạo) trong mọi lĩnh vực KH&CN và những người tuy chưa qua đào tạo chính quy như trên nhưng làm loại nghề nghiệp đòi hỏi trình độ tưong đương cao đẳng, đại học trở lên. Như vậy, "nhân lực KH&CN tiềm năng" chỉ xem xét về trình độ mà không xem xét đến nghề nghiệp và hoạt động (có hoạt động trong lĩnh vực KH&CN hay không). Đối với Việt Nam nguồn "nhân lực KH&CN tiềm năng" chỉ bao gồm toàn bộ những người tốt nghiệp cao đẳng, đại học trở lên vì chúng ta chưa có văn bản pháp lý nào về việc công nhận những người chưa tốt nghiệp cao đẳng, đại học nhưng được coi là có trình độ tương đương như vậy.


Bảng 3.5. Nhân lực KH&CN tiềm năng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh


Nguồn: Cục Thống kê thành phố Hồ Chí Minh, sách Tổng điều tra dân số và nhà ở thành phố Hồ Chí Minh năm 1999 và sách Tổng điều tra dân số và nhà ở thành phố Hồ Chí Minh năm 2009


   Theo số liệu tổng điều tra năm 2009, trên 65% nhân lực KH&CN tiềm năng có độ tuổi dưới 39 tuổi, trong nhóm tuổi 20 - 29 chiếm tỷ trọng lớn nhất (36,79%), đến nhóm tuổi 30 - 39 (30,84%) (Bảng 3.6).

Bảng 3.6. Cơ cấu nhân lực KH&CN tiềm năng theo nhóm tuổi đối với từng giới
năm 1999 và 2009 (%)


Nguồn: Cục Thống kê thành phố Hồ Chí Minh, sách Tổng điều tra dân số và nhà ở thành phố Hồ Chí Minh năm 1999 và sách Tổng điều tra dân số và nhà ở thành phố Hồ Chí Minh năm 2009.


   Đến năm 2009, nhân lực có trình độ thạc sĩ tập trung nhiều nhất ở độ tuổi 30 - 39 (8.467/20.721 người, chiếm 40,86%) và bắt đầu thấp dần từ độ tuổi 40 - 49 và trên 50 tuổi (độ tuổi 40 - 49 là 20,5% và trên 50 tuổi là 18,21%). Cơ cấu nhân lực có trình độ tiến sĩ giảm dần từ cao đến thấp, cụ thể cao nhất là trên 50 tuổi (2.751/4.889 người, chiếm 56,27%), từ 40 - 49 tuổi (22,62%), 30 - 39 (17,37%) và thấp nhất là độ tuổi 20 - 29 (chỉ có 183/4.889 người, chiếm 3,74%) (Bảng 3.7).


Bảng 3.7. Cơ cấu nhân lực KH&CN tiềm năng theo nhóm tuổi ở các trình độ chuyên môn đối với từng giới năm 2009


Nguồn: Cục Thống kê thành phố Hồ Chí Minh, sách Tổng điều tra dân số và nhà ở thành phố Hồ Chí Minh năm 1999 và sách Tổng điều tra dân số và nhà ở thành phố Hồ Chí Minh năm 2009.


3.2.2. Nhân lực nghiên cứu và phát triển
 

   Nhân lực NC&PT bao gồm những người tham gia trực tiếp vào hoạt động NC&PT trong cơ quan/tổ chức và được trả lương cho dịch vụ của họ. Theo OECD, nhân lực NC&PT được phân thành ba nhóm:


   – Cán bộ nghiên cứu (nhà nghiên cứu/nhà khoa học/kỹ sư nghiên cứu): là những cán bộ có trình độ cao đẳng, đại học, thạc sĩ và tiến sĩ tham gia vào quá trình tạo ra tri thức, sản phẩm và quá trình mới, tạo ra phương pháp và hệ thống mới.


   – Nhân viên kỹ thuật và tương đương: gồm những người thực hiện các nhiệm vụ đòi hỏi phải có kinh nghiệm và hiểu biết kỹ thuật thuộc một trong những lĩnh vực KH&CN. Họ tham gia vào NC&PT bằng việc thực hiện những nhiệm vụ khoa học và kỹ thuật có áp dụng những khái niệm và phương pháp vận hành dưới sự giám sát của cán bộ nghiên cứu.


   – Nhân viên hỗ trợ trực tiếp NC&PT: gồm những người có hoặc không có kỹ năng, nhân viên hành chính và văn phòng tham gia vào đề tài, dự án NC&PT. Nhóm này gồm cả những người làm việc liên quan đến nhân sự, tài chính và hành chính nếu họ trực tiếp phục vụ công việc NC&PT của các tổ chức NC&PT.


   Theo số liệu thống kê từ điều tra NC&PT năm 2014 do Bộ Khoa học và Công nghệ thực hiện, tổng số nhân lực tham gia hoạt động NC&PT năm 2013 trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh là 15.609 người, trong đó:


   – Cán bộ nghiên cứu (trình độ cao đẳng, đại học trở lên): 12.673 người;


   – Cán bộ kỹ thuật: 844 người;


   – Cán bộ hỗ trợ: 1.664 người;


   – Người làm chức năng khác: 428 người.


   Trong số 12.673 cán bộ nghiên cứu có 1.940 người có trình độ tiến sĩ, 5.324 người có trình độ thạc sĩ, 5.140 người có trình độ đại học (Bảng 3.8).


Bảng 3.8. Cán bộ nghiên cứu năm 2013 theo trình độ


Nguồn: Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia, Dữ liệu điều tra NC&PT năm 2014.

3.1. Các tổ chức khoa học và công nghệ trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

3.3. Tài chính cho hoạt động khoa học và công nghệ tại thành phố Hồ Chí Minh

3.4. Cơ sở hạ tầng khoa học và công nghệ của thành phố Hồ Chí Minh

3.5. Thông tin khoa học và công nghệ tại thành phố Hồ Chí Minh

Sách Khoa học và Công nghệ TP. HCM 2016 

Tải nội dung này tại đây.


 


Các tin khác: