Thông tin cập nhật thường xuyên
Nghiên cứu tác dụng trên ký sinh trùng sốt rét của thuốc phối hợp dihydroartemisinin – piperaquin

Đề tài do các tác giả Nguyễn Thị Minh Thu, Nông Thị Tiến, Nguyễn Mai Hương, Trương Văn Như (Viện Sốt rét – ký sinh trùng côn trùng Trung ương) thực hiện nhằm đánh giá hiệu lực in vitro và in vivo của thuốc phối hợp 40 mg dihydroartemisinin và 320 mg piperaquin phos-phat (DHA-PQP) trên thực nghiệm.

Thí nghiệm nghiên cứu được tiến hành tại Khoa Nghiên cứu điều trị sốt rét, Viện Sốt rét – ký sinh trùng – côn trùng Trung ương từ tháng 9/2005 – 3/2007.

Theo đó, nhóm tác giả đã nghiên cứu hiệu lực in vitro và in vivo của DHA, PQP và thuốc sốt rét phối hợp DHA-PQP (nguyên liệu do Viện Hóa học sản xuất) trên các chủng ký sinh trùng P. falciparum nhạy bột chloroquin (CQ) T996 và kháng CQ (K1) và chủng P. berghei kháng CQ (K70) ở chuột nhắt trắng.

Kết quả, trên in vitro, DHA có hiệu lực in vitro cao với P. falciparum đơn dòng T996 và phân lập K1 (IC50 – nồng độ ức chế 50% ký sinh trùng phát triển, tương ứng là 3,9 và 2,4 nmol/l và MIC – nồng độ ức chế tối thiểu là 8,75 và 4,37 nmol/l). PQP và PQPW (mẫu của WHO cung cấp, Trung Quốc sản xuất) có hiệu lực với T996 và K1 thấp hơn DHA (các giá trị IC50 tương ứng là 41,8 và 46,2 nmol/l với PQP; 38,7 và 42 nmol/l với PQPW; MIC của PQP tương ứng là 80 và 80 nmol/l, của PQPW là 80 và 80 nmol/l). PQP có hiệu lực in vitro tương tự như PQPW, các giá trị p > 0,05. Thuốc phối hợp DHA-PQP có hiệu lực in vitro cao với P. falciparum, với IC50 là 4,1 và 2,5 nmol/l, MIC là 8,8 và 4,4 nmol/l, tương đương với hiệu lực của DHA đơn thuần. Trên in vivo, DHA đơn thuần với tổng liều 74 mg/kg/3 ngày điều trị, chỉ có tác dụng ức chế P. berghei phát triển, mật độ ký sinh trùng giảm rất thấp trong tuần đầu điều trị, sau đó tái phát 100% ở 3 tuần theo dõi tiếp theo và chuột chết 100%. PQP đơn thuần với tổng liều 510 mg/kg/3ngày điều trị, có tác dụng điều trị khỏi 80%, tái phát lại 20% với mật độ ký sinh trùng thấp và 100% chuột sống đến ngày 28. Thuốc phối hợp DHA-PQP với tổng liều 584 mg (64,89 mg/kg DHA và 519,11 mg/kg PQP)/kg/3 ngày điều trị, có tác dụng điều trị khỏi 905 chuột nhiễm P. berghei, có 10% tái phát ở ngày 14 với mật độ ký sinh trùng thấp (0,007% hồng cầu nhiễm) và 100% chuột sống đến ngày 28.

LV (nguồn: TC Dược học số 385, 5/2008)

Các tin khác :
   Bã sắn ủ chua, nguồn thức ăn bổ sung có giá trị cho bò thịt khi nuôi bằng rơm lúa
   Kết quả nghiên cứu đánh giá khả năng chịu hạn của một số giống lạc tại Thanh Trì, Hà Nội
   Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật tiên tiến trong sản xuất hoa lily áp dụng cho các tỉnh miền Bắc Việt Nam
   Đặc điểm sinh lý, sinh hóa máu, ngoại hình và sinh trưởng của bò lai 75% và 25% máu bò Charolais, Simmental
   Nghiên cứu xu thế mắc và một số đặc điểm dịch tễ học của trẻ tự kỷ điều trị tại Bệnh viện Nhi Trung ương giai đoạn 2000 đến 2007
   Đánh giá tương đương điều trị loét tá tràng của Dafrazol so với Losec MUPS
   Nghiên cứu những ảnh hưởng bất lợi của học sinh thừa cân và béo phì
   Các giải pháp bồi dưỡng để nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên tiểu học ĐBSCL
   Giải pháp nâng cao nhận thức cộng đồng trong việc bảo vệ môi trường ở thành phố Cao Lãnh
   Biến đổi lâm sàng,thông khí phổi và khí máu động mạch ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính trong đợt bùng phát sau điều trị oxy cao áp
 
© Mạng Thông tin Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh; Giấy phép số 168/GP-BVHTT, ngày 28/05/1999 do Bộ VHTT cấp.
Cơ quan quản lý mạng: Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ TP.HCM - CESTI
Địa chỉ: 79 Trương Định, Quận 1, TP.HCM; Tel: 84-08-8297040 - Fax: 84-08-8291957; E-mail: webadmin@cesti.gov.vn
Ghi rõ nguồn www.cesti.gov.vn khi bạn sử dụng lại thông tin từ website này