|
GS.TSKH. Nguyễn Khánh Dư và “gia tài” của một người thầy
77 tuổi đời, 55 tuổi nghề, 49 năm làm công tác giảng dạy, đào tạo cán bộ và 57 tuổi Đảng, cuộc đời ông là sự cống hiến không ngừng nghỉ cho nền y học nước nhà. Ông đã gắn trọn cuộc đời mình với trái tim con người, vượt qua bao khó khăn để đạt tới đỉnh cao với một đường mổ mang tên ông được cả thế giới công nhận và trân trọng... Đó là GS.TSKH Nguyễn Khánh Dư mà mọi người thường gọi thân mật là “thầy Dư”. Ông đã được xét chọn là Danh nhân Y học thế giới và tên ông đã được ghi rạng rỡ trong Niên giám danh nhân khoa học. Đến giờ, lịch làm việc của ông vẫn luôn dày đặc… Dấn thân…
Ông là một trong số rất ít người có tuổi Đảng (57) còn lớn hơn tuổi nghề (55). Con đường mà ông bước chân vào nghề y được xuất phát từ sự yêu nước và dấn thân cho Đảng, cho sự nghiệp bảo vệ, giải phóng dân tộc. Ông tham gia Mặt trận Việt Minh từ rất sớm. Năm 1947, cũng như tất cả thanh niên Việt Nam yêu nước khác, cậu đã tình nguyện ra mặt trận theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngoài mặt trận, chứng kiến cảnh đồng đội, đồng bào đã ngã xuống hay bị thương trong điều kiện thiếu thốn thuốc men, phương tiện y tế, cậu hết sức đau xót và một ý nghĩa rất nhân văn đã được nhen nhúm từ đó: “Nếu sau này được học hành tốt sẽ quyết dấn thân vào ngành y để cứu sống được nhiều người hơn”. Năm 1950, người thanh niên yêu nước Nguyễn Khánh Dư được vinh dự kết nạp vào Đảng CSVN (khi đó gọi là Đảng Cộng sản Đông Dương). Một bước ngoặt lớn trong cuộc đời - cuối năm 1953, cuộc kháng chiến đánh đuổi thực dân Pháp đi gần tới thắng lợi, để chuẩn bị cho một tương lai lạc quan trong công cuộc xây dựng lại đất nước, ông được gửi sang học ở Liên Xô, tại Trường Đại học Y khoa Matxcơva 1 mang tên Xêtrênôp. Học tới năm thứ 5, mặc dù vẫn chỉ là sinh viên nhưng ông được tin tưởng giao hướng dẫn thực hành cho sinh viên y khoa năm thứ 3, 4 tại một bệnh viện (BV) thực hành của trường ở thành phố Tule. Sau 6 năm miệt mài học tập, ông trở về nước phục vụ Tổ quốc với tấm bằng hạng ưu. Năm 1964, ông trở lại Matxcơva để bảo vệ luận án Phó tiến sĩ với đề tài: “Điều trị phẫu thuật bệnh hẹp van động mạch chủ và các hẹp van tim khác phối hợp”. Ngay sau thời gian này, trước sự hy sinh của đồng bào Việt Nam trong cuộc chiến tranh cứu nước đã thôi thúc người bác sĩ trẻ từ Liên Xô tình nguyện trở về tham gia kháng chiến. Năm 1973, ông được tăng cường cho tiền tuyến với cương vị là Chủ nhiệm Khoa ngoại Bệnh viện lâm sàng Trung ương miền Nam Việt Nam (Bệnh viện E). Tại chiến trường Vĩnh Linh - Quảng Bình, nơi được xem là “túi bom của tuyến lửa”, ông đã tiến hành những ca mổ hết sức phức tạp dưới hầm, trong tiếng gào rú của bom đạn. Rất nhiều chiến sĩ và đồng bào đã được ông cứu sống. Đến năm 1981, ông bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ khoa học với đề tài: “Điều trị phẫu thuật vết thương và di chứng vết thương mạch máu lớn ngoại biên” tại Liên Xô. Đề tài luận án của ông được Hội đồng khoa học Viện hàn lâm y khoa Liên Xô đề nghị cho viết thành một cuốn sách chuyên khảo bằng tiếng Nga. Cuốn sách này đã được Nhà xuất bản Y học Matxcơva ấn loát và phát hành năm 1985. Năm 1984, ông được phong học hàm Giáo sư I, năm 1991 phong học hàm Giáo sư II. Ông thông thạo 3 thứ tiếng nước ngoài: Anh, Pháp, Nga. Gia tài của một thầy thuốc Ông rất “giàu”! Vâng, có lẽ không ai ngạc nhiên cả. Cái sự “giàu” của ông chính là một gia tài lớn và quý giá dành cho người bệnh, cho học trò và nền y học nước nhà mà không có bất cứ một thứ vật chất nào có thể cân, đo, đong, đếm được. Đó chính là trên 10.000 ca mổ cùng biệt danh “người thầy thuốc có đôi bàn tay vàng”. Ông luôn là bác sĩ mổ chính giải quyết những trường hợp khó nhất thuộc các bệnh tim mạch, phổi, tiêu hóa, thận và các mạch máu lớn ngoại biên. Ông là một trong những tên tuổi nổi tiếng đi tiên phong trong phẫu thuật bướu cổ, đặc biệt là dạng bướu Basedow độc tính, thường có nhiều nguy cơ biến chứng cao. Trong số trên 800 ca mổ bệnh cường giáp Basedow của ông, có nhiều trường hợp rất đặc biệt, nhất là gia đình có 5 chị em gái đều mắc bệnh này... Ông là người đầu tiên viết sách về phẫu thuật bệnh này. Và cũng chính người bác sĩ, người thầy hơn nửa thế kỷ gắn bó với trái tim con người ấy đã vượt qua bao khó khăn để đạt tới đỉnh cao khoa học với một đường mổ mang tên ông, được cả thế giới trân trọng ghi đậm nét trong y văn thế giới - Đường mổ Nguyễn Khánh Dư. Đó là đường mổ mới gọi là “Đường mổ cổ - ngực kết hợp” cho một bệnh nhân ở Tây Ninh bị viên đạn xuyên vào lồng ngực từ 10 năm trước, nay vết thương tái phát, phải mổ. Cái khó là viên đạn lại nằm giữa phần trung tâm động mạch cảnh trái và động mạch dưới đòn trái. Chọn đường mổ thích hợp cho trường hợp này là vấn đề nan giải, nếu không sẽ nắm chắc nguy cơ tử vong. Bằng đôi tay tài hoa và con dao mổ, GS đã “vẽ” nên một đường mổ tuyệt tác có hình chữ L đi vào phần trung tâm của động mạch cảnh gốc trái và động mạch dưới đòn trái: bắt đầu từ bờ trước của cơ ức đòn chũm, trên chuôi xương ức khoảng 4 - 5cm, kéo dài xuống mặt trước của xương ức, rẽ ngoặt sang trái, nơi ngang mức với khoảng liên sườn thứ 2 và tận cùng ở điểm cách bờ trái xương ức 6 - 8cm. Và điều tuyệt diệu đã xảy ra, đường mổ không những cứu sống bệnh nhân (vào ngày 19/9/1978) mà còn đi vào lịch sử y văn thế giới và được mang chính tên người đã sinh ra nó - GS. Nguyễn Khánh Dư. GS. Dư còn là người lập nên một bảng phân loại mới về các di chứng vết thương mạch máu lớn ngoại biên. Bảng phân loại này hiện nay được coi là tiên tiến, hiện đại nhất của thế giới. Không dừng ở đó, GS còn có hơn 100 công trình nghiên cứu khoa học, hàng chục đầu sách chuyên khảo, đào tạo nhiều thế hệ học trò mà trong đó có rất nhiều tiến sĩ nay đã thành danh... Và trong cái gia tài quý báu đó, thật khó có thể kể hết hàng nghìn bức thư từ rất nhiều địa chỉ khác nhau, trong nước cũng như nước ngoài gửi đến cho nhà khoa học, nhà giáo, người thầy thuốc ưu tú Nguyễn Khánh Dư. Mỗi bức thư kể về một tâm tình, một hoàn cảnh khác nhau nhưng tất cả đều nói lên lòng khâm phục và quý mến người thầy thuốc đức độ, đầy tài năng đã cứu sống và cho mình “được sinh ra lần thứ 2”. Họ gọi ông là con người có trái tim nhân hậu, hòa chung nhịp đập với trái tim người bệnh. Dù vào ngày nghỉ chủ nhật nhưng ông vẫn cặm cụi bên bàn làm việc, cẩn thận ghi chép từng ca mổ đã thực hiện của ngày hôm trước cũng như lên lịch mổ cho các ngày tiếp theo. Cuốn sổ “Phẫu thuật từ sau Tết Đinh Hợi” cho thấy lịch làm việc của ông thật đáng nể. Trung bình một ngày ông vẫn thực hiện từ 2 đến 4 - 5 ca mổ, kể cả ngày thứ bảy, thậm chí có ngày tới 6, 7 ca. Không những thế, ông vẫn xuất sắc với trách nhiệm là Chủ tịch Hội Phẫu thuật lồng ngực tim mạch TP.HCM. Tham gia Hội thảo Hội tim mạch học can thiệp quốc gia lần thứ 2 hồi đầu tháng 10/2007, ông đã cẩn thận soạn báo cáo khoa học về “Biến chứng hiếm gặp trong quá trình can thiệp không xâm lấn” và tự tay vẽ lấy tất cả hình ảnh minh họa. Ông như trẻ hơn tuổi 77 của mình rất nhiều, vẫn nhanh nhẹn và tận tụy. LV (theo SK&ĐS) |




Có lần ông được phỏng vấn mà câu hỏi đặt ra hết sức hóc búa: “Nếu người nước ngoài hỏi giáo sư (GS) trong các lần đi nước ngoài để tham dự hội nghị khoa học hay hợp tác khoa học ở nhiều nước trên thế giới rằng: “Ông có phải là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam (CSVN) không? Xin ông cho biết về sự liên quan của Đảng CSVN đối với công việc ông đang làm?”, GS không ngần ngại nói ngay: “Vâng, tôi là đảng viên đảng CSVN. Tất cả mọi cử chỉ, hành động, hoạt động chuyên môn, khoa học kỹ thuật và đào tạo cán bộ của tôi đều được thực hiện theo đường lối cách mạng... Khoa học là di sản chung của cả thế giới, không phân biệt là của các nước tư bản chủ nghĩa hay xã hội chủ nghĩa. Chúng tôi luôn luôn nghiên cứu những đặc điểm của y tế, y học Việt Nam trong điều kiện cụ thể của nhân dân và đất nước. Và chúng tôi không ngừng áp dụng một cách sáng tạo các thành tựu của y học thế giới vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam với mục đích cuối cùng là “Vì sự nghiệp khoa học và bảo vệ sức khỏe nhân dân”. 

