Thông tin cập nhật thường xuyên
Một nhà khoa học hết lòng vì Tổ quốc

Là nhà khoa học lớn, đại diện xuất sắc cho đội ngũ khoa học nước nhà và mãi mãi là người con trung hiếu của miền đất Vĩnh Long - Nam Bộ anh hùng, tên ông đã trở thành huyền thoại. Dù đã đi xa nhưng những tấm gương về một nhà khoa học yêu nước vẫn mãi sống và dung dưỡng cho bao thế hệ trí thức Việt Nam. Đó là cố Giáo sư - Viện sĩ Trần Đại Nghĩa, người có biệt danh “Ông Phật làm súng” do Đại tướng Võ Nguyên Giáp tặng… 

Tuổi nhỏ ở quê hương, ra đi và ước mong ngày trở về…
Giáo sư Trần Đại Nghĩa, tên thật là Phạm Quang Lễ, sinh ra ở quê ngoại (ấp 6, xã Xuân Hiệp, Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long). Cha ông là một thầy giáo yêu nước tên Phạm Quang Mùi (1882 - 1920), khi về dạy học tại Vĩnh Long đã lấy bà Lý Thị Diệu (1881 - 1941) làm vợ. Giáo sư có 2 chị em, và trong cảnh học hành tốn kém thời ấy, sau khi người cha mất sớm, người chị gái Phạm Thị Nhẫn phải xin nghỉ học, nhường cho em mình học hành đến nơi đến chốn.

Ở lớp tiểu học, Phạm Quang Lễ là người học giỏi đều các môn, đặc biệt là môn toán, và là một học trò ngoan luôn giúp đỡ bạn bè. Hè năm 1926, Lễ tốt nghiệp bậc tiểu học hạng tối ưu, rồi thi đỗ hạng ưu được học bổng vào trường Trung học đệ nhất cấp Mỹ Tho, nay thuộc Tiền Giang. Năm 1930, anh thi đỗ vào trường Trung học đệ nhị cấp, anh lên trường Petrus Ký (nay là trường PTTH chuyên Lê Hồng Phong -TP.HCM) và vẫn là học trò nghèo nhưng học giỏi nhất lớp, đậu học bổng liên tục 3 năm liền. Năm 1933, anh thi đậu loại giỏi bằng tú tài Tây, thay vì phải thi tú tài bản xứ như bao học trò cùng lớp.

Cùng học với anh Lễ tại ngôi trường nổi tiếng Petrus Ký có các học sinh Phạm Văn Thiện (ông Phạm Hùng, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch HĐBT), Huỳnh Tấn Phát, Nguyễn Tấn Ghi Trọng, Đặng Văn Chung… là những học trò xuất sắc của khoá học.

Tiếp tục học lên, nắm vững những kiến thức khoa học quan trọng bằng tự học là chính, để về giúp nước, giúp đời là ý chí và lòng ham muốn cuả người học trò giỏi đó từ Nam Bộ sang Paris. Sau 2 năm đi làm ở Toà sứ Mỹ Tho để hiểu cho được sự đời của người dân nô lệ, và đỡ đần cho mẹ và chị gái khi đã mất cha, trong một dịp nhà báo Dương Quang Ngươu (1897-1938), một Việt kiều yêu nước từ Pháp về làm việc ở Toà sứ Mỹ Tho đã phát hiện ra Lễ và nhận thấy những tư chất thông minh hiếm có cùng quyết tâm đi xa hơn, để học hành giúp đời, giúp nghĩa lớn đánh lại thực dân phương Tây đã đến cướp và nô lệ nước Nam của Lễ. Ông Ngươu đã vận động Hội Ái Hữu trường Chasseloup Laubat cấp cho cậu một năm học bổng đi du học tại Paris hoa lệ của nước Pháp. Ngày 5/9/1935, Lễ xuống tàu tại bến Nhà Rồng (TP.HCM) bắt đầu xa quê hương, xa người mẹ và chị gái ở Trà Ôn để sang Pháp du học với mong muốn sớm thành tài để về giúp nước, giúp kháng chiến từ những ngày đầu chống Pháp bao khó khăn.

Lĩnh hội kiến thức khoa học tiên tiến từ châu Âu về giúp đất nước

Từ cảng Sài Gòn sang cảng Macxây (Pháp), con tàu phải đi vòng qua nhiều nơi mất 21 ngày, sau khi ghé qua nhiều nước châu Á, Phi, qua kênh đào Hồng Hải, kênh Xuyê, rồi vào Địa Trung Hải. Cũng giống như chuyến đi tìm đường của Bác Hồ, qua những nơi đó, anh thấy rõ hơn bộ mặt thật bao bất công, tàn bạo của bọn chủ nô, chúa đất, và người dân lành các nước ấy cũng đều cực khổ như quê hương Việt Nam đang bị nô lệ.
Để có đủ tiền cho 2 năm học ở bản xứ trước khi vào đại học tại Paris, trong khi học bổng của Chasseloup Laubat chỉ cấp cho 1 năm, Lễ phải dồn sức làm 16 tiếng/ngày để đủ tiền trang trải tại thủ đô nước Pháp. Mỗi ngày ở Paris xa vắng quê hương, hình ảnh của người mẹ nghèo và người chị tần tảo sớm hôm ở Trà Ôn - Vĩnh Long cứ hiện lên rõ mồn một trong tâm trí. Và thế là Lễ quyết chí đổ công, đổ sức học rút 2 năm làm một, chỉ sau một năm anh đã đủ mọi điều kiện vào học đại học tại Paris.

Những năm theo học tại các trường ĐH của Pháp, anh bỏ công tìm tòi, nghiên cứu tài liệu về các loại vũ khí. Việc này phải làm rất kín đáo, tế nhị và khôn khéo. Tìm ở thư viện các trường không đủ, anh tìm đến những kho sách chỉ dành cho các giáo sư nghiên cứu, trong đó có nhiều tài liệu quý hiếm, bí mật mà sinh viên không được tiếp cận. Khó nhưng không nản, hễ có dịp là anh tìm mọi cách gần gũi các giáo sư, khi thì bắt chuyện, khi thì nói sao để họ hiểu anh là người đang nghiên cứu về các loại cầu cống, thuốc nổ của ngành giao thông. Nhờ vậy, anh được đọc, nghiên cứu về chất nổ, là điều chưa từng có ở Pháp bấy giờ.

Cảm tình với người sinh viên Việt Nam chăm chỉ, cần mẫn, luôn khiêm tốn, lễ độ, người thủ thư Pháp đã cho anh mượn nhiều tài liệu về các loại thuốc nổ, về các phát minh, kỹ thuật đúc nòng đại bác, về những ống thép chịu áp lực cao… tất cả đều là sách đặc biệt quý hiếm ở Pháp và thế giới lúc đó. Tích cóp nhẫn nại từ các thư viện các trường ĐH Pháp 11 năm liền, đến trước khi về nước, anh đã dự trữ được hơn 30.000 trang tài liệu về vũ khí và thuốc nổ. Điều không thể bỏ qua, là anh phải cố gắng nghiền ngẫm công phu, nhớ bằng được các loại tài liệu đó, để lỡ khi về nước, các tài liệu có thất lạc hay bị chiến tranh làm mất mát, thì cũng vẫn còn có trí nhớ của mình để sáng tạo vũ khí.

Sau những năm tháng học tập cần cù, với trí thông minh và nghị lực cao, Phạm Quang Lễ đã nhận được cùng một lúc ba bằng đại học: Kỹ sư cầu đường, kỹ sư điện và cử nhân toán học. Sau đó anh còn thi và lấy tiếp bằng Kỹ sư hàng không, bằng của Trường mỏ và Trường đại học Bách khoa.
Xa Tổ quốc và quê hương 11 năm trời, song về tới Hà Nội anh chỉ nghỉ 7 ngày là lên xưởng quân giới Giang Tiên (Thái Nguyên) để bắt đầu nghiên cứu súng chống xe tăng, dựa theo mẫu Bazoka của Mỹ, cùng với 2 viên đạn do Thứ trưởng Tạ Quang Bửu cung cấp. Ngày 5/12/1946, Chủ tịch  Hồ Chí Minh đã cho mời người kỹ sư đến Bắc bộ phủ. Vừa thân mật, vừa trịnh trọng, Chủ tịch nói: “Kháng chiến sắp đến nơi rồi, hôm nay mời chú đến để giao nhiệm vụ cho chú là Cục trưởng Cục Quân giới. Chú lo vũ khí cho bộ đội diệt giặc”. “Việc chú làm là việc hệ trọng, vì thế từ nay, Bác đặt tên cho chú là Trần Đại Nghĩa. Dùng bí danh này để giữ bí mật cho chú và để bảo vệ gia đình, bà con chú còn ở trong Nam”. Thế là từ đó, Cục trưởng Cục Quân giới đầu tiên của QĐND VN có tên mới, mà quê hương ông chưa hề biết: Trần Đại Nghĩa.

Và bắt đầu từ đó, người Cục trưởng Cục quân giới, thiếu tướng Trần Đaị Nghĩa quên hết những chuyện đời thường để lao vào tìm kiếm các phát minh khoa học về vũ khí cho quân đội ta. Ông đã cùng nhiều đồng chí xây dựng và phát triển ngành quân giới, chế tạo ra nhiều loại vũ khí mới trong điều kiện vô cùng thiếu thốn về vật tư thiết bị, trong đó nổi bật nhất là súng và đạn Bazoka, súng không giật SKZ góp phần quan trọng để quân đội ta chiến thắng trên chiến trường. Kỹ sư Trần Đại Nghĩa đã mở nhiều lớp đào tạo và bồi dưỡng lý thuyết và thực hành chế tạo vũ khí cho cán bộ, công nhân ngành quân giới trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến.

Người bạn đời của Giáo sư, bà Nguyễn Thị Khánh, khi xưa là một y sỹ chuyên lo cho các thương binh từ chiến trường của Cục Quân giới, nay sống tại Q.Tân Bình (TP.HCM) kể lại, có lần ngày nghỉ, Giáo sư được vợ giao việc trông con giùm, khi cô đi chợ về thấy con mặt mũi lấm lem, đang chơi nghịch một mình, còn ông thì mải mê nghiên cứu sách vũ khí. Bị vợ la rầy, ông chỉ cười trừ, xin lỗi vợ rồi lại đi vào phòng nghiên cứu. Quá mải mê bận bịu với vũ khí, đến nỗi Giáo sư thường quên cả nón, giày dép… Bà Khánh cho biết nhiều lần trong rừng mà Giáo sư bị mất mũ hoài, liên lạc của Cục Quân giới mua cho ông một chiếc mũ đội đầu, phải viết vào mũ: “Mũ này là của ông Trần Đại Nghĩa”.

Cuộc đời nghiên cứu vũ khí phục vụ kháng chiến của giáo sư Trần Đại Nghĩa kéo dài qua cả hai cuộc chiến tranh của dân tộc. Ông là người đại diện xuất sắc cho đội ngũ khoa học nước nhà. Các công trình nghiên cứu của ông được quốc tế đánh giá cao.
Giáo sư - Viện sỹ Trần Đại Nghĩa đi xa đã 10 năm nay, song cho đến cuối đời, ông vẫn luôn chân chất, hiền lành, bao dung với tất cả, từ những đồng chí, đồng đội, đến những nhà khoa học non trẻ mới trưởng thành. Ở ông, dù đi xa bao năm, khắp chân trời, góc bể trời Tây, về Hà Nội, chiến khu Việt Bắc, rồi là Viện sỹ, Viện trưởng Viện khoa học VN, song những gì của dòng sông Măng Thít, của những kỷ niệm thời ấu thơ về cha, mẹ và người chị gái không lúc nào nguôi ngoai trong ông…

Cố GS.VS Trần Đại Nghĩa (1913-1997) đã từng giữ nhiều trọng trách quan trọng như: Cục trưởng Cục quân giới; Cục trưởng Cục pháo binh; Phó chủ nhiệm Tổng cục hậu cần; Phó chủ nhiệm Tổng cục kỹ thuật (Bộ quốc phòng); thứ trưởng Bộ Công thương; thứ trưởng Bộ Công nghiệp; Chủ nhiệm ủy ban kiến thiết cơ bản Nhà nước; Chủ nhiệm ủy ban khoa học và kỹ thuật Nhà nước; Viện trưởng Viện khoa học Việt Nam; Chủ tịch đầu tiên của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam; Hiệu trưởng đầu tiên của trường Đại học Bách khoa Hà Nội… Dù ở cương vị nào ông cũng qui tụ được đội ngũ trí thức, đoàn kết họ, hướng họ vào mục tiêu xây dựng một nền khoa học Việt nam hiện đại, đủ sức giải quyết các vấn đề do thực tiễn đặt ra.
Mỗi chặng đường công tác thành công công của ông đều được ghi nhận bằng những huân chương và giải thưởng cao quý như: Huân chương Hồ Chí Minh, Giải thưởng Hồ Chí Minh, Anh hùng lao động, Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô...

L.Vân (theo TC Quê hương, ĐHBKHN, Viện KH&CN VN)

 

 
© Mạng Thông tin Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh; Giấy phép số 168/GP-BVHTT, ngày 28/05/1999 do Bộ VHTT cấp.
Cơ quan quản lý mạng: Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ TP.HCM - CESTI
Địa chỉ: 79 Trương Định, Quận 1, TP.HCM; Tel: 84-08-8297040 - Fax: 84-08-8291957; E-mail: webadmin@cesti.gov.vn
Ghi rõ nguồn www.cesti.gov.vn khi bạn sử dụng lại thông tin từ website này