|
GS.TSKH Bùi Văn Ga: tên tuổi của trường ĐH gắn liền với những thành tựu khoa học
Từ khi còn là một nghiên cứu sinh tại Pháp, ông đã có ý tưởng muốn thực hiện một công trình nghiên cứu giúp hạn chế lượng khí thải ô nhiễm môi trường từ một số loại phương tiện giao thông tại quê nhà. Và, một sáng chế độc đáo, được xem là duy nhất trên thế giới - xe gắn máy sử dụng hai nhiên liệu gas và xăng - đã giúp ông trở thành nhà khoa học nổi tiếng, xuất sắc… Ông là GS.TSKH Bùi Văn Ga, Giám đốc Đại học Đà Nẵng. Ông đã chia sẻ những suy nghĩ cũng như kinh nghiệm về công tác nghiên cứu khoa học, quản lý… Xin ông cho biết một vài suy nghĩ của mình về mối quan hệ giữa đào tạo và nghiên cứu khoa học trong các trường đại học hiện nay?
Ông đã có những công trình nghiên cứu mang tính ứng dụng cao. Vậy, bí quyết nào đã giúp ông gặt hái được thành công đó? Thực ra kết quả nghiên cứu khoa học của tôi vẫn còn rất khiêm tốn, chưa làm được gì nhiều. Từ khi còn là sinh viên, tôi đã rất đam mê nghiên cứu khoa học. Óc quan sát và so sánh giúp tôi xác định được những vấn đề mình cần quan tâm nghiên cứu để có khả năng ứng dụng cao. Qua trao đổi với đồng nghiệp nước ngoài, tôi học tập được cách tiếp cận những vấn đề lớn của nhân loại (chẳng hạn, vấn đề năng lượng và môi trường) cũng như cách xử lý những vấn đề này để trên cơ sở đó nghiên cứu áp dụng vào tình hình cụ thể của nước ta. Là Giám đốc của một trường đại học, phải đảm đương khối lượng công việc quản lý không nhỏ, lại tham gia giảng dạy, vậy quỹ thời gian ông dành cho nghiên cứu khoa học như thế nào? Đại học Đà Nẵng là một đại học vùng, trọng điểm gồm 8 trường thành viên và đơn vị trực thuộc với 1.700 cán bộ và hơn 60.000 sinh viên các hệ. Việc quản lý một trường đại học lớn như vậy đòi hỏi đầu tư nhiều thời gian và công sức. Dĩ nhiên trong hoạt động của mình, tôi phải ưu tiên dành thời gian cho công tác quản lý. Cách tổ chức công việc và tư duy khoa học giúp tôi rất nhiều trong công tác này. Trong khoảng thời gian ngoài giờ eo hẹp của mình, tôi phải thu xếp các hoạt động nghiên cứu khoa học sao cho có hiệu quả cao nhất. Trong nghiên cứu khoa học, việc đầu tiên là phải hình thành một nhóm nghiên cứu. Kinh nghiệm tổ chức nhóm nghiên cứu của người Nhật rất bổ ích cho chúng ta, nhóm nghiên cứu bao gồm Giáo sư đầu ngành, các Phó Giáo sư, giảng viên, nghiên cứu sinh, sinh viên... Giáo sư phải là “tổng công trình sư” của đề tài nghiên cứu, các đồng nghiệp còn lại phối hợp triển khai các ý tưởng của Giáo sư. Ở Đại học Đà Nẵng, tôi đã hình thành được một nhóm nghiên cứu như vậy. Nhóm do tôi đứng đầu có 15 cán bộ với 14 nghiên cứu sinh đã bảo vệ thành công luận án tiến sỹ hoặc đang tiến hành thực hiện luận án. Nhờ tổ chức tốt việc phân công trách nhiệm và phối hợp công tác có hiệu quả với các đồng nghiệp, tôi có thể duy trì các hoạt động khoa học của mình song song với công tác quản lý. Ông có lời khuyên gì đối với các giảng viên trẻ? Cán bộ giảng dạy đại học tốt phải là nhà nghiên cứu giỏi. Các bạn giảng viên trẻ khi đã xác định gắn bó đời mình với sự nghiệp giáo dục và đào tạo thì nên chuẩn bị hành trang thật vững chắc để bước vào môi trường nghiên cứu khoa học. Đầu tiên, ngoại ngữ là chìa khóa để các bạn trẻ đi vào kho tàng tri thức của nhân loại. Vì vậy, cần chuẩn bị ngoại ngữ thật tốt. Việc thứ hai là xác định cho mình một hướng nghiên cứu khoa học thích hợp. Qua internet, chúng ta có thể tìm kiếm được các thông tin để mình lựa chọn hướng nghiên cứu. Việc cuối cùng là hãy tạo cho mình một niềm đam mê nghiên cứu khoa học. Hiện nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có chủ trương chuẩn hóa đội ngũ cán bộ giảng dạy đại học. Cán bộ giảng dạy lý thuyết phải có bằng tiến sỹ. Đây là chủ trương rất đúng đắn để nâng cao chất lượng giảng dạy đại học ở nước ta và cũng là động lực để thúc đẩy sự phấn đấu vươn lên của các bạn giảng viên trẻ.
LV (theo TCHĐKH) |




Đào tạo và nghiên cứu khoa học là hai nhiệm vụ chính của một trường đại học. Thầy giáo phải nghiên cứu khoa học thì mới cập nhật được kiến thức để bổ sung bài giảng, và có như vậy, kiến thức truyền đạt cho sinh viên mới luôn là kiến thức mới. Khác với bậc phổ thông, dạy đại học không phải chỉ truyền đạt kiến thức đã có sẵn mà phải dạy cho sinh viên cách suy luận, tìm tòi, khám phá. Chính vì vậy trong xếp hạng các trường đại học đẳng cấp quốc tế, người ta đặt trọng số rất nặng vào thành quả nghiên cứu khoa học của thầy và trò. Tên tuổi của trường đại học gắn liền với những thành tựu khoa học chứ không phải quy mô đào tạo. Ở nước ngoài, thông thường giảng viên đại học giảng 1 giờ ở lớp thì nghiên cứu 8 giờ ở phòng thí nghiệm. Ở nước ta hiện nay, do quy mô đào tạo của các trường đại học tăng nhanh, số lượng đội ngũ cán bộ giảng dạy phát triển không theo kịp yêu cầu nên đại bộ phận giảng viên đại học phải tập trung giảng dạy là chính, vì vậy, công tác nghiên cứu khoa học chưa được chú trọng đúng mức. Nguy cơ hiện nay là giảng viên đại học quên mất thói quen nghiên cứu khoa học và xem nghiên cứu khoa học không phải là nhiệm vụ của mình. Những cán bộ giảng dạy làm nghiên cứu khoa học hiện nay chỉ bao gồm một số ít người có lòng đam mê thật sự. Những năm gần đây, Nhà nước tập trung đầu tư khá lớn cho một số phòng thí nghiệm trọng điểm có trình độ hiện đại. Tuy nhiên, do giảng viên bị quá tải trong công tác giảng dạy nên việc khai thác các phòng thí nghiệm này còn hạn chế. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng giáo dục đại học. Nếu không thay đổi tư duy trong hàng ngũ cán bộ giảng dạy đại học thì ước mơ một trường đại học của ta được xếp hạng vào danh sách các trường đại học đẳng cấp quốc tế sẽ rất xa vời.

